Friday, November 13, 2020

Một số quy định pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình

Những năm gần đây, tình trạng bạo lực gia đình diễn ra ở nhiều nơi với các đối tượng khác nhau; tính chất của các vụ bạo lực gia đình ngày càng tinh vi, phức tạp; do đó người có hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định pháp luật.

Vậy khi người chồng hoặc người vợ có hành vi bạo lực vợ hoặc chồng tùy theo mức độ vi phạm mà bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, cụ thể sau:

- Trường hợp người chồng có hành vi đánh đập vợ hoặc ngược lại mà gây thương tích thì bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 1.500.000 đồng và buộc người có hành vi vi phạm xin lỗi công khai khi nạn nhân có yêu cầu, hành vi này được quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 49 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ.

- Trường hợp người chồng có hành vi sử dụng các công cụ, phương tiện hoặc các vật dụng khác gây thương tích cho vợ hoặc ngược lại thì bị phạt tiền từ 1.500.000 đồng đến 2.000.000 đồng và buộc người có hành vi vi phạm xin lỗi công khai khi nạn nhân có yêu cầu, hành vi này được quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 49 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ.

Ngoài bị phạt tiền, người có hành vi gây thương tích hoặc tổn hạn cho sức khỏe của người khác sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự và việc truy cứu trách nhiệm hình sự phụ thuộc vào tỷ lệ thương tích của nạn nhân như sau:

- Thứ nhất, tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc người có hành vi vi phạm dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm hoặc có tính chất côn đồ mà tỷ lệ tổn thương cơ thể dưới 11% thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 tại khoản 22 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 2015.

- Thứ hai, tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% hoặc gây thương tích 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30% hoặc phạm tội 02 lần trở lên thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm quy định tại khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 tại khoản 22 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 2015.

- Thứ ba, tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên hoặc gây thương tích 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60% thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm quy định tại khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 tại khoản 22 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 2015.

- Thứ tư, làm chết người hoặc gây thương tích làm biến dạng vùng mặt của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên hoặc gây thương tích 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên thì bị phạt tù từ 07 năm đến 14 năm quy định tại khoản 4 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 tại khoản 22 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 2015.

- Thứ năm, làm chết 02 người trở lên thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân quy định tại khoản 5 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 tại khoản 22 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 2015./.



Share:

0 comments:

Post a Comment